Vitamin C có tác dụng gì

Vitamin C, hay acid ascorbic là một chất dinh dưỡng thiết yếu cho các loài linh trưởng bậc cao, và cho một số nhỏ các loài khác. Sự hiện diện của ascorbic là cần thiết trong một loạt các phản ứng trao đổi chất trong tất cả các động vật và cây cối và được được tạo ra trong cơ thể bởi hầu như tất cả các cơ thể sinh vật, loại trừ loài người, khỉ, cá heo do thiếu enzyme đặc hiệu xúc tác chuyển hóa Glucose thành Vitamin C. Đây là một chất được mọi người biết đến rộng rãi là một vitamin mà thiếu nó thì sẽ gây ra bệnh scorbut cho con người.[1][2][3].

Nguồn gốc

Vitamin C có nhiều trong các loại rau quả tươi cùi trắng như cam, chanh, quýt, (Hàm lượng vitamin C trong rau quả phân phối không đều, có nhiều ở lớp vỏ hơn ở ruột, ở lá nhiều hơn ở cuống và thân rau) và có hàm lượng cao trong rau xanh, đặc biệt là bông cải xanh, tiêu, khoai tây, cải brussel,rau cải, cà chua, xoong cam, quýt, chanh, bưởi…

Trong thiên nhiên, vitamin C có trong hầu hết các loại rau quả tươi. Thông thường, các loại rau quả trồng ở nơi đầy đủ ánh sáng có hàm lượng vitamin C cao hơn. Nếu tính số mg vitamin C có trong 100g rau quả ăn được (mg%) theo “Bảng thành phần hóa học thức ăn Việt Nam” (Nhà xuất bản Y học – 1972) thì nó có nhiều nhất trong rau ngót (185 mg%), sau đó là cần tây (150 mg%), rau mùi (140 mg%), kinh giới (110 mg%), rau đay (77%mg), súp lơ, rau thơm, su hào, rau diếp, rau muống… Trong các loại quả thì nhiều nhất là thanh trà (177 mg%), sau đó là bưởi (95 mg%), thị (81 mg%), ổi (62 mg%), nhãn (58 mg%), đu đủ chín (54 mg%), quýt, cam, chanh, vải, dứa…

Tính chất

Vitamin C ở dạng tinh thể trắng, rất dễ tan trong nước,tan trong ethanol 96 khó tan trong rượu,thực tế không tan trong ether và clorofom, không tan trong các dung môi hữu cơ, tồn tại được ở 100 °C trong môi trường trung tính và acid, bị oxy hóa bởi Oxi trong không khí và càng bị oxy hóa nhanh khi có sự hiện diện của Fe và Cu

Rối loạn liên quan đến vitamin C

Thiếu vitamin C

Không như hầu hết các loài động vật khác, cơ thể người không thể tự sản xuất vitamin C. một bệnh do thiếu hụt vitamin C đã được nhiều sách vở mô tả là bệnh scorbut (scurvy). Các triệu chứng kinh điển của bệnh này gồm: chảy máu nướu răng, chậm lành vết thương, các vết thâm tím rộng trên da (mảng xuất huyết dưới da, dân gian thường gọi là “vết ma cắn”). Thêm vào đó là sự dễ bị nhiễm trùng, hysteria và trầm cảm cũng là những tiêu chuẩn chẩn đoán.

Bệnh Scurvy đã ảnh hưởng đến rất nhiều bệnh nhân Ai cập, La Mã và Thành Rome cổ đại. Bệnh này gắn liền với lịch sử Thế giới vì tỷ lệ cung cấp vitamin C không đầy đủ trong những chiến dịch quân sự và trong các cuộc hành trình trên biển dài ngày. Đã có những giai đoạn lịch sử mà bệnh scurvy lan tràn rộng khắp như một bệnh dịch. Từ năm 1556 đến 1857, đã có 114 dịch scurvy được báo cáo suốt trong các tháng mùa đông, lúc mà không thể cung cấp đầy đủ nguồn rau xanh. Các chiến binh trên các cuộc hải trình dài ngày còn bị ảnh hưởng nặng nề hơn.

Một số nhà thám hiểm, như Jacques Cartier năm 1856, đã nhận thấy rằng ăn một số loại thức ăn nào đó có thể làm giảm được tình trạng bệnh. Ông đã cùng thủy thủ đoàn ăn loại cây lá kim vân sam; một số thủy thủ đoàn khác ăn cam, chanh, chanh lá cam, …. Năm 1742, Jame Lind, một bác sĩ người Scotland, đã viết một bài thảo luận chính thức đầu tiên về khả năng gây bệnh scurvy do thiếu hụt dinh dưỡng.

Theo kinh nghiệm của Lind

Ông cho biết các bệnh nhân scurvy có thể phục hồi sau khi cho dùng nước cam. Mặc dù có một số nhà thám hiểm đã ủng hộ những khám phá của Lind – như thủy thủ đoàn của thuyền trưởng Jame Cook đã hoàn toàn tránh được scurvy trong 3 cuộc hành trình dài ngày trên biển từ 1768 đến 1779 – Thủy quân Anh quốc vẫn chưa chấp nhận việc sử dụng nước cam chanh cho các thủy thủ mãi đến năm 1804, tức 62 năm sau những khám phá của Lind. Xu hướng ngày nay người ta chấp nhận chế độ dinh dưỡng toàn diện nhờ nhiều khám phá mới về vai trò quan trọng của vitamin và khoáng chất.

Vitamin C được định nghĩa là “yếu tố chống scorbus”, được Albert Szent-Györgyi phân lập năm 1928. Gần 70 năm sau, các nhà nghiên cứu đã khám phá ra nhiều lợi ích của vitamin C trên sức khỏe. Ngày nay mặc dù bệnh scurvy hiếm gặp trong xã hội chúng ta, thiếu hụt vitamin C ở mức độ cận lâm sàng và mức độ giới hạn dưới cũng khá phổ biến, đặc biệt là ở người già.

Thiếu vitamin C gây ra bệnh scorbut, với biểu hiện:

  • Người lớn: viêm lợi, chảy máu chân răng; tụ máu dưới màng xương, đốm xuất huyết, tăng sừng hóa ở nang lông. Nếu không điều trị có thể tử vong do chảy máu ồ ạt hoặc do thiếu máu cục bộ cơ tim.
  • Trẻ còn bú: thường do chế độ ăn nhân tạo, bị chảy máu dưới mằng xương, nhất là chi dưới; dễ chảy máu dưới da; vết thương lâu lành.

Thừa vitamin C

Vitamin C tuy ít tích luỹ nhưng nếu dùng liều cao lâu ngày, có thể tạo sỏi oxalat (do dehydroascorbic chuyển thành acid oxalic), hoặc sỏi thận urat, có khi cả hai loại sỏi trên; đi lỏng, rối loạn tiêu hóa; giảm độ bền hồng cầu.

Dùng vitamin C liều cao kéo dài ở thai phụ gây tăng nhu cầu bất thường về vitamin C ở thai (vì vitamin C qua rau thai) dẫn đến bệnh scorbut sớm ở trẻ sơ sinh.

Cơ chế tác dụng

Acid ascorbic bị oxy hóa cho acid dehydroascorbic; đây là phản ứng oxy hóa khử thuận nghịch, qua đó tác dụng như một đồng yếu tố (cofactor), tham gia vào nhiều phản ứng hóa sinh trong cơ thể, như:

  • Hydroxyl hóa,
  • Amid hóa;
  • Làm dễ dàng sự chuyển prolin, lysin sang hydroxyprolin và hydroxylysin (trong tổng hợp collagen);
  • Giúp chuyển acid folic thành acid folinic trong tổng hợp carnitin;
  • Tham gia xúc tác oxy hóa thuốc qua microsom (cytochrom P450) gan;
  • Giúp dopamin hydroxyl hoá thành nor-adrenalin;
  • Giúp dễ hấp thu sắt do khử Fe3+ thành Fe2+ ở dạ dày, để rồi dễ hấp thụ ở ruột.
  • Ở mô, Vitamin C giúp tổng hợp collagen. Proteoglycan và các thành phần hữu cơ khác ở răng, xương, nội mô mao mạch.
  • Trong thiên nhiên, Vitamin C có mặt cùng vitamin P . Vitamin P lại có tính chống oxy hóa, nên bảo vệ được Vitamin C. Hơn nữa Vitamin P còn hiệp đồng với Vitamin C để làm bền vững thành mạch. Tăng tạo collagen, ức chế hyaluronidase và cùng Vitamin C, Vitamin E, β-caroten và selen. Tham gia thanh thải gốc tự do có hại trong cơ thể.

Tác động có lợi

Chức năng chủ yếu của vitamin C là sự sản xuất collagen, một protein chính của cơ thể. Đặc biệt, vitamin C giúp nối kết một phần của phân tử amino acid proline để hình thành hydroxyproline. Kết quả là, sự cấu trúc nên collagen rất ổn định. Collagen không những là một protein rất quan trọng trong việc liên kết các cấu trúc cơ thể với nhau (mô liên kết, sụn khớp, dây chằng, vv..), vitamin C còn hết sức cần thiết cho sự lành vết thương, sự mạnh khỏe của nướu răng, và ngăn ngừa các mảng bầm ở da.

Thêm vào đó, Còn có chức năng miễn dịch, tham gia sản xuất một số chất dẫn truyền thần kinh và hormon, tổng hợp carnitine, hấp thụ và sử dụng các yếu tố dinh dưỡng khác. Vitamin C cũng là một chất dinh dưỡng chống oxy hóa rất quan trọng.

Chức năng miễn dịch

Nhiều người đã xác nhận Vitamin C làm tăng cường hệ thống miễn dịch, đặc biệt trong ngăn ngừa và điều trị cảm cúm thông thường. Tuy nhiên, mặc dù có nhiều nghiên cứu lâm sàng và thực nghiệm kết quả thuận lợi, người ta vẫn còn tranh cãi nhau kịch liệt về hiệu lực của Vitamin C. theo một quan điểm về sinh hóa, Đóng một vai trò thiết yếu trong nhiều cơ chế miễn dịch. Sự nhiễm trùng nhanh chóng làm suy giảm lượng dự trữ Vitamin C trong các bạch cầu. Nhất là Lymphocyte, và thiếu hụt Vitamin C

Hoạt động như một chất chống oxy hóa trong môi trường nước của cơ thể – cả nội bào lẫn ngoại bào. Đây là phương cách bảo vệ đầu tiên của Vitamin C. Trong khi đó vitamin E là một chất chống oxy hóa tan trong mỡ. Vitamin C cũng hoạt động cùng với các enzyme chống oxy hóa khác như glutathione peroxidadase, catalase, và superoxide dismutase. Còn hỗ trợ cho Vitamin E trong vai trò chống oxy hóa trong cơ thể. Do vậy tăng cường hiệu lực của Vitamin E.

Cùng với Vitamin C và E, glutathione

Đảm đương vai trò chống đỡ và ngăn ngừa các tổn thương do các gốc tự do. Những cá thể bị thiếu glutathione di truyền có thương tổn tế bào tăng đáng kể. Các tế bào hồng cầu, bạch cầu và mô thần kinh bị ảnh hưởng nhiều nhất. Hậu quả là vỡ hồng cầu, giảm chức năng bạch cầu, thoái hóa mô thần kinh.

Trên các cá thể bị giảm tổng hợp glutathione, để tăng cường khả năng chống oxy hóa. Người ta thường dùng các chất chống oxy hóa như glutathione. 2-mercaptopropionyl-glycin, Vitamin E và N-acetylcysteine (NAC), trong đó Vitamin C và NAC có ích lợi nhiều nhất. Các nghiên cứu đã cho thấy Vitamin C làm giảm tổn thương tế bào trên các bệnh nhân thiếu glutathione di truyền hiệu quả hơn và chi phí thấp hơn NAC. Với liều 500 mg mỗi ngày, Vitamin C đảm bảo duy trì nồng độ phù hợp glutathione hồng cầu.

Dạng hiện có

Viên sủi chứa vitamin C.
Viên sủi chứa vitamin C.

Vitamin C hiện có rất nhiều dạng – tinh thể, bột, viên nhộng, viên nén, viên nén phóng thích hẹn giờ,… Thực tế trong các dạng này khác nhau. Acid ascorbic là dạng rẻ tiền và được sử dụng rộng rãi nhất. Các dạng đệm cho Vitamin C như muối Natri, magnesium, Calcium, Kali ascorbate. Các dạng đệm này được dùng chủ yếu vì đôi khi acid ascorbic ảnh hưởng đến dạ dày. Mặt hạn chế của các dạng này rất hiếm, như dạng muối Natri ascorbate ảnh hưởng lên một số bệnh nhân nhạy cảm với Natri (như suy thận). Hầu hết các dạng Vitamin C thương mại đều có nguồn gốc từ ngũ cốc. Đối với những người nhạy cảm với ngũ cốc nên sử dụng có nguồn gốc khác. Như từ cây cọ sagu (sago-palm).

Gần đây một dạng mới là C ester (Ester-C) bắt đầu thâm nhập vào thị trường.

Theo các nhà sản xuất, Ester là một mắc xích giữa các đơn vị lặp lại trong công thức Ester-C giúp cho việc hấp thụ và sử dụng của cơ thể. Tuy nhiên các nghiên cứu về hấp thụ chưa cho thấy dạng này tốt hơn. Đồng thời Ester-C còn đắt gấp 3 lần so với dạng thường.

Sử dụng cùng với bioflavonoid có thể làm tăng khả năng hấp thu, nhưng với điều kiện hàm lượng bioflavonoid trong sản phẩm phải đáng kể (khi hàm lượng bioflavonoid lớn hơn hoặc bằng hàm lượng Vitamin C thì sự hấp thu của Vitamin C tăng lên đáng kể). Nói chung thì, dạng đơn giản và kinh tế nhất. Phù hợp cho mọi người nhất đơn giản là acid ascorbic.

Ứng dụng lâm sàng

Đã có hàng loạt nghiên cứu trong phòng thí nghiệm, trên lâm sàng và trong cộng đồng chứng tỏ tính hữu ích khi sử dụng qua rất nhiều cách: giảm tỷ lệ ung thư, tăng cường khả năng miễn dịch, bảo vệ cơ thể chống ô nhiễm và thuốc lá, thúc đẩy quá trình hàn gắn vết thương, tăng tuổi thọ, giảm nguy cơ đục thủy tinh thể. Các nghiên cứu còn cho thấy sử dụng vitamin C hữu ích cho rất nhiều tình trạng sức khỏe của cơ thể nhờ đặc tính chống oxy hóa và tăng cường khả năng miễn dịch của nó. Do đó, vitamin C là một thành phần quan trọng không thể thiếu của hầu hết các chế phẩm bổ sung dinh dưỡng. Mọi chương trình dinh dưỡng khác.

Mua ngay Kensei Bishin – Viên uống tripeptide collagen Nhật Bản.

Xem thêm:

– Collagen tripeptide
– Chiết xuất sụn mũi cá hồi chứa 20% Proteoglycan Hyaluronic acid
– Tơ tằm thủy phân (Hydrolyzed silk)
– Chiết xuất gạo chứa 10% ceramide
– Elastin
– Chiết xuất lá atisô (Artichoke leaf extract)
– L-cystine
– Hỗn hợp Vitamin
– Vitamin C (Natri-L-ascorbic)
– Vitamin B3 (Nicotinamide)
– Vitamin E (D-alpha-tocopherol)
– Vitamin D (Cholecalciferol)
– Vitamin B5 (Calcium pantothenate)
– Vitamin B2 (Riboflavin)
– Vitamin B1 ( Thiamine hydrochloride)
– Vitamin B6 (Pyridoxin hydroclorid)
– Vitamin A (Retinyl palmitat)
– Vitamin B9 (Folic acid)
– Vitamin B12 (Cyanocobalamin)

Nguồn Wikipedia

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Shopping Cart
icons8-exercise-96 chat-active-icon